Bản Tổng Kết
BẢN TỔNG KẾT HỘI THẢO
* * *
ĐIỀU GÌ TẠO NÊN MỘT TRƯỜNG ĐẠI HỌC XANH TẠI VIỆT NAM ?
XÁC ĐỊNH THAM VỌNG XANH CỦA ĐẠI HỌC TRÍ VIỆT
* * *
TP. Hồ Chí Minh, 3-4 tháng 12, 2010
Đây là bản tổng kết của Trung Tâm Nghiên Cứu & Phát Triển Giáo Dục Trí Việt (TTTV) về những điều đã tiếp thu được qua các bài tham luận và các cuộc thảo luận tại Hội Thảo. Chúng tôi hy vọng những nhận định bước đầu này từ Hội thảo sẽ góp phần giúp TTTV trong việc triển khai dự án thành lập trường Đại Học Quốc tế Trí Việt.
A. MỤC TIÊU CỦA HỘI THẢO
Hội thảo quốc tế về chủ đề “Điều gì tạo nên một trường Đại học Xanh tại Việt Nam - Xác định tham vọng Xanh của Đại học Trí Việt” là sự tiếp nối của hội thảo do TT Trí Việt tổ chức năm 2009 về trách nhiệm xã hội của trường đại học (“Đại học nào cho thế kỷ 21? ”), trong đó ý tưởng Bền Vững (BV) được xác định là ý tưởng mang tính chiến lược đối với Dự án Đại Học Trí Việt (ĐHTV).
Trên thế giới, ý tưởng Đại Học Xanh (ĐHX) – hệ quả của phong trào cổ súy cho Phát Triển Bền Vững (PTBV) – đã trở thành một định hướng chiến lược cho việc xây dựng, điều hành và hoạt động của một trường đại học ngày nay, đặc biệt từ khi công bố và ký kết bản Tuyên Bố Talloires (1990). Tại Việt Nam, một trong những nước bị đe dọa nhiều nhất bởi Biến đổi Khí hậu, những vấn đề về PTBV và Bảo vệ Môi trường (BVMT) đã trở thành trọng tâm của chiến lược phát triển quốc gia1. Tuy vậy, lĩnh vực giáo dục vẫn nằm ngoài vòng ảnh hưởng của trào lưu này. ĐHX vẫn còn là một ý tưởng xa lạ không những đối với công chúng mà cả đối với những người hoạt động trong lĩnh vực giáo dục. Qua Hội Thảo về ĐH Xanh, TTTV mong muốn mở ra một không gian để vừa đưa ý tưởng ĐHX vào cuộc tranh luận đang diễn ra về phương thức cải tổ hệ thống giáo dục ở Việt Nam, vừa tiếp nhận và tham khảo những kinh nghiệm về xây dựng ĐHX trên thế giới. Đối với TTTV, ĐHX không còn đơn thuần là một sự lựa chọn mà đã trở thành một sự cần thiết, một sự tất yếu. Do đó Hội thảo này không phải là một hội thảo khoa học mà hướng đến thực tiễn: tạo cơ sở để xây dựng một mô hình ĐHX phù hợp với điều kiện của Việt Nam..
B. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN ĐƯỢC ĐẶT RA TẠI HỘI THẢO
1. Đại học Xanh - một tổng thể, một ý tưởng mới
2. Vấn đề thiết kế/ xây dựng Xanh
3. Đại học Xanh - không gian giảng dạy, nghiên cứu và học tập về Bền vững và Bảo vệ Môi trường và ứng dụng các biện pháp Xanh.
4. Đại Học Trí Việt: một nhân tố của xã hội dân sự
1. Đại học Xanh - một tổng thể, một ý tưởng mới
Ngày nay trên thế giới vẫn tồn tại những cuộc tranh luận về khái niệm PTBV và ĐHX nhưng đồng thời đã hình thành dần một sự nhất trí cao: ĐHX là một tổng thể bao gồm tất cả các chiều kích và hoạt động, từ cơ sở vật chất, phương thức quản lý và điều hành, hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu đến quan hệ với nền kinh tế và với cộng đồng và xã hội.
Mọi quyết định kinh doanh của ĐHX phải mang tính Bền vững trên cả ba bình diện (triple bottom line): xã hội, sinh thái và tài chính2:
1) Bình diện xã hội: ĐHX phải khẳng định cương vị là một thành viên của xã hội dân sự và cộng đồng quốc tế qua các đóng góp vào nỗ lực PTBV và BVMT (như các chương trình đào tạo, công trình nghiên cứu, dự án thực tiễn và số sinh viên tốt nghiệp dấn thân vào các lĩnh vực trên);
2) Bình diện sinh thái: ĐHX là môi trường hoạt động của những con người có khả năng tác động đến hệ thống sinh thái xung quanh; do đó phải xét đến hệ quả mà hoạt động của những thành viên ĐHX gây cho hệ thống sinh thái;
3) Bình diện tài chính: với tư cách là một doanh nghiệp, dù là doanh nghiệp xã hội, ĐHX phải chứng tỏ khả cân bằng được chi phí đầu tư với lợi ích thu được trên cả vòng đời của những cơ sở vật chất đã đầu tư chứ không nên chỉ giới hạn trong những tiết kiệm nhất thời mà những biện pháp xanh mang lại.
Tuy vậy, thực tiễn đến nay cho thấy, ngay tại các nước tiên tiến có phong trào ĐHX mạnh, phương châm BV được triển khai trước nhất và chủ yếu trong lĩnh vực cơ sở vật chấtphương thức quản lý. Lý do là vì, áp dụng các biện pháp Bền vững trong những lĩnh vực này có những mục tiêu dễ xác định hơn và mang lại cho trường những lợi ích kinh tế và tài chính có thể nhận diện và đo lường được một cách rõ ràng, đặc biệt là cơ hội cắt giảm chi phí vận hành (như tiết kiệm năng lượng, nước, nguyên vật liệu, lao động v.v. Trong các lĩnh vực khác, BV thường chỉ được triển khai ở mức độ khiêm tốn và cũng chỉ liên quan đến một số thành viên của trường – đội ngũ giảng viên, nghiên cứu, sinh viên (mặc dù sinh viên tại các nước tiên tiến ngày càng quan tâm đến các vấn đề PTBV và BVMT). Như vậy, ở thời điểm này, khái niệm ĐHX là một tổng thể vẫn có thể được xem như là một ý tưởng mới3.
Dự án ĐHTV có một lợi thế rất lớn so với các trải nghiệm ĐHX ở các nước. Đó chính là “Tư duy Xanh” của Nhóm Sáng Lập ngay từ giai đoạn thiết kế mô hình của trường. Tầm nhìn và sự quyết tâm của Nhóm Sáng Lập là một yếu tố quan trọng cho sự thành công của một ĐHX. Muốn cho tính chất Xanh trở thành dấu ấn của Trí Việt, tạo nên sự khác biệt (differentiator), sức thu hút của Trí Việt, và làm cơ sở vững chắc cho sự lan tỏa trong xã hội, Nhóm Sáng Lập phải triển khai tính BV một cách nhất quán và đồng bộ theo một lộ trình có mục tiêu rõ ràng cho từng giai đoạn phát triển của trường4. Rất nhiều diễn giả tại Hội thảo đã nhấn mạnh rằng ĐHX không phải là một thực thể có thể có ngay từ đầu mà là cả một quá trình, trong đó, ở từng giai đoạn, Nhóm Sáng Lập sẽ phải cân nhắc tiềm lực huy động được để có những lựa chọn phù hợp với tầm nhìn và các mục tiêu được đề ra.
Hầu hết các bài tham luận và thảo luận có cách tiếp cận mang tính tổng thể (holistic), phản ảnh tính đa chiều của ĐHX. Tuy nhiên, trong thực tiễn vẫn chưa có một cuộc đối thoại thực sự giữa các chuyên gia về ĐHX trong các lĩnh vực khác nhau. Phải chăng Trí Việt nên có một nhóm tham mưu ngay từ đầu, bao gồm các chuyên gia đa ngành cùng nhau xác định những mục tiêu ưu tiên và xử lý các yêu cầu sẽ xuất hiện trong quá trình xây dựng trường. Trí Việt dự kiến sẽ thành lập Trung Tâm Nghiên Cứu về Bền Vững, và có thể cân nhắc việc đưa Trung Tâm này vào hoạt động sớm hơn trường để đảm nhiệm chức năng tham mưu và đánh giá nêu trên.
2. Vấn đề thiết kế/ xây dựng Xanh
Thiết kế/ Xây dựng Xanh là yếu tố tạo ấn tượng đầu tiên nơi các “khách hàng” của một trường ĐHX (phụ huynh học sinh, sinh viên). Theo nhận thức phổ biến, một ĐHX phải được thiết kế và xây dựng theo những tiêu chuẩn quốc tế và với những công nghệ tiên tiến nhất, cũng thường là đắt tiền nhất. Đây là một sự ngộ nhận5. Trong lĩnh vực xây dựng, không thể tính hiệu quả kinh tế thực của các biện pháp xanh nếu chỉ dựa trên chi phí xây dựng, mà còn phải tính đến vòng đời của công trình và những công nghệ và nguyên vật liệu xanh được sử dụng, cộng với các khoản tiết kiệm trong chi phí vận hành.
Hơn nữa, còn phải tính đến hệ quả hoạt động của các cơ sở này trên hệ thống sinh thái và cộng đồng xung quanh cũng như trên cách hành xử của những người sử dụng cơ sở xanh, là một điều thường khó đo lường. Một bài tính tổng hợp như vậy ngay từ giai đoạn thiết kế và xây dựng mới là cơ sở chính xác để nêu bật tính ưu việt và hiệu quả của những biện pháp xanh.
Ngay trong lĩnh vực thiết kế, kinh nghiệm xây dựng một trường đại học tại Việt Nam đã cho thấy, nếu biết áp dụng một cách sáng tạo những nguyên lý cơ bản của thiết kế để đề xuất những biện pháp kỹ thuật sử dụng các lợi thế của địa phương (thổ nhưỡng, khí hậu và nguyên vật liệu), vẫn có thể đạt hiệu quả cao mà không phải sử dụng các công nghệ hiện đại đòi hỏi chi phí vận hành cao (ví dụ, sử dụng cách thông gió tự nhiên thay vì máy điều hòa nhiệt độ). Như vậy, có thể nói công nghệ hiện đại, tiên tiến là cần thiết nhưng không phải là đáp án duy nhất và toàn diện cho các vấn đề đặt ra bởi PTBV và BVMT6. Tư duy này chưa thật phổ biến tại Việt Nam, nơi các nhà thiết kế thường không quan tâm đến những biện pháp thay thế (alternative) ít tốn kém hơn nhưng vẫn có hiệu suất cao7.
Do đó, trong lĩnh vực Thiết kế/ Xây dựng Xanh, Trí Việt cần phải cân nhắc điều kiện thực tiễn của Việt Nam và khả năng nội tại của mình để có những sự lựa chọn đúng đắn. Trên thế giới đã có nhiều hệ thống tiêu chí khác nhau để vừa hướng dẫn vừa thẩm định hoạt động của một ĐHX trên một số bình diện, như trong việc sử dụng năng lượng (đặc biệt là năng lượng tái tạo), xử lý và tái sử dụng các chất thải. Hội Đồng Công Trình Xanh Việt Nam cũng đang xây dựng hệ thống LOTUS Việt Nam phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu của Việt Nam8.
3. Đại học Xanh - không gian giảng dạy, nghiên cứu và học tập về Phát triển Bền vững và Bảo vệ Môi trường, và ứng dụng các biện pháp Xanh
Tuy rằng ý tưởng Bền vững chưa thực sự thâm nhập lĩnh vực giảng dạy, nghiên cứu và học tập như đã nêu trên, kinh nghiệm của các ĐHX trên thế giới đã đưa ra một số nguyên lý cơ bản có thể giúp Trí Việt xây dựng các môn học về Bền Vững trong khối kiến thức cơ bản, đồng thời lồng nội dung Bền vững vào các môn chuyên ngành.
“Không gian” ở đây không chỉ là khuôn viên của trường mà bao gồm cả cộng đồng, doanh nghiệp, cơ sở văn hóa, kinh tế, xã hội trong và ngoài nước là những “đối tác” của trường thông qua những dự án có sự tham gia của các thành viên (stakeholders) của trường. Những dự án này chính là phương tiện để trường đại học thực thi trách nhiệm xã hội của mình và trang bị cho sinh viên một nhận thức về thực tế rất cần thiết để giúp họ hội nhập vào môi trường làm việc một cách có hiệu quả. Không gian này phải được quan niệm như là một phòng thí nghiệm sống (living laboratory)9 để đội ngũ giảng viên, nghiên cứu, sinh viên và cộng đồng cùng kiểm nghiệm và ứng dụng những gì đã được giảng dạy, nghiên cứu và học tập ở trường.
Giảng dạy, học tập về BV và BVMT không chỉ là truyền đạt kiến thức trong khuôn khổ những lớp học – ngay cả khi những kiến thức này được xây dựng từ những trường hợp gần gũi với sinh viên – mà chủ yếu là dẫn dắt sinh viên vào những tình huống cụ thể để tạo điều kiện cho giảng viên và sinh viên ý thức và cảm nhận được những vấn đề về PTBV và BVMT, từ đó, thử nghiệm và bổ sung kiến thức học đường với kinh nghiệm của cộng đồng, tổ chức hay doanh nghiệp bên ngòai. Đó chính là “học bằng trải nghiệm” (experiential learning), phương châm giảm khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn bằng cách đưa thực tế vào lớp học và đưa người học ra thực tế10. Tại Việt Nam, nơi mà thanh niên còn tương đối “mù chữ ” về PTBV và BVMT – như được nhận xét tại Hội thảo – phương châm này có tiềm năng mang lại những hệ quả rất tích cực không những về phương diện kiến thức mà còn trong nhận thức, thái độ và cách ứng xử của sinh viên đối với các vấn đề PTBV và BVMT, như kinh nghiệm của một số nước cho thấy11.
Đã có một số phương thức được đưa ra để kết hợp lý thuyết và thực tiễn, như học tập qua phục vụ (service learning), học tập qua hợp tác (cooperative learning)12. Những phương thức này đều dựa trên hai nguyên tắc :
a) Nguyên tắc về sự cùng “sản xuất” kiến thức (coproduction of knowledge) : học/hiểu những nguyên lý, lý thuyết trên lớp rồi ứng dụng/kiểm nghiệm, và tái sản xuất kiến thức cùng với đối tác trong một dự án; phương thức này còn tạo cơ hội học thêm từ cách làm của người dân địa phương, một kho tàng kinh nghiệm mà các giảng viên, nhà nghiên cứu, sinh viên phải biết, tôn trọng và tìm cách ứng dụng, nếu thích hợp.
b) Nguyên tắc về phương thức làm việc liên ngành để giải quyết những vấn đề cụ thể (interdisciplinary solutions based work): xuất phát từ tính đa chiều của các vấn đề về BV và BVMT, các dự án là cơ hội tốt để sinh viên thấy được sự cần thiết và tính hiệu quả của việc làm việc nhóm và của cách tiếp cận liên ngành, từ khâu chuẩn bị đến thực hiện.
Chính phương châm hướng tới những vấn đề cụ thể ở nhiều cấp độ khác nhau là kim chỉ nam cho hoạt động nghiên cứu của trường, đặc biệt trong giai đoạn đầu khi trường còn yếu về tiềm lực nghiên cứu. Các tham luận và thảo luận tại Hội thảo đều có một gợi ý chung, rằng một trường đại học mới nên hướng đến những giải pháp mềm (soft solutions) cho những vấn đề cụ thể, không đòi hỏi phải đầu tư quá lớn về tài chính, nhân lực13. Đây là một gợi ý rất thiết thực đối với Trí Việt.
Trong khuôn khổ các nỗ lực chuẩn bị cho mình tiềm lực và cơ sở để quảng bá khái niệm ĐHX và trở thành điểm nhấn của phong trào này tại Việt Nam, ĐH Trí Việt có thể gia nhập mạng lưới các trường đại học và trung tâm nghiên cứu trong và ngoài nước cùng chia sẽ ý tưởng Bền vững14. ĐHTV không dự kiến mở một khoa chuyên về Môi trường như một số đại học đã làm, nhưng sẽ có Trung Tâm Nghiên Cứu về sự Bền Vững. Ngoài công việc chính là nghiên cứu, Trung tâm sẽ là công cụ tạo dấu ấn Bền vững cho tất cả các hoạt động của trường, như tư vấn cho ban lãnh đạo trường, thiết kế các chiến lược và giải pháp về PTBV và BVMT, tạo không gian và cơ chế hợp tác giữa các khoa chuyên ngành về Bền vững, điều phối các dự án hợp tác của trường có liên quan đến PTBV và BVMT. Một trong những việc đầu tiên mà Trung Tâm sẽ đảm nhiệm, ngay cả trước khi ra đời một cách chính thức, là soạn thảo Khung Nguyên tắc cho sự Bền (Sustainability Framework) để làm cơ sở hoạch định mô hình và chiến lược xây dựng ĐHX Trí Việt.
4. Đại Học Trí Việt: một nhân tố của xã hội dân sự
Ngay cả khi “xã hội dân sự” còn là một khái niệm chưa được định nghĩa thống nhất ở Việt Nam, ĐHTV phải tự định vị mình như là một nhân tố của xã hội dân sự trong mối quan hệ hợp tác và phản biện với cộng đồng, doanh nghiệp, các cơ sở kinh tế, xã hội, văn hóa, giới truyền thông và giới hoạch định chính sách15. Chính những mối quan hệ này là kênh để Trí Việt khẳng định tính chất doanh nghiệp xã hội của mình, thực thi trách nhiệm xã hội qua nỗ lực quảng bá và nâng cao ý thức về PTBV và BVMT. Là doanh nghiệp xã hội, ĐHX Trí Việt phải tính đến ý kiến, lợi ích, và cơ cấu sự tham gia đóng góp của các bên có liên quan, là một bằng chứng rõ nhất của tính hiệu quả của một nền giáo dục đào tạo. Với tinh thần đó, Hội thảo đã tạo điều kiện để một nhóm sinh viên tham dự và phát biểu ý kiến, vì sinh viên là đối tượng chính đồng thời là chủ thể của trường đại học.
Chính bối cảnh vừa không thuận lợi (ý thức của quần chúng và đặc biệt của giới trẻ Việt Nam về PTBV và BVMT còn rất hạn chế, lĩnh vực giáo dục còn bị bỏ ngỏ) vừa thuận lợi (Bền vững đã trở thành định hướng chiến lược trong chính sách của Nhà Nước) đã thúc giục ĐHTV lấy nỗ lực thay đổi tư duy và cách hành xử của con người làm định hướng chiến lược lâu dài. Tuy việc thực hiện định hướng này không nhất thiết đòi hỏi đầu tư lớn về tài chính – như đã trình bày ở trên, tính chất tiên phong của ĐHX trong bối cảnh hôm nay đòi hỏi một sự gắn kết đa dạng (hợp tác, cộng hưởng, phản biện, đấu tranh) và đa chiều với mọi thành tố của xã hội dân sự. Có vậy mới tạo được cơ sở vững chắc cho sự lan tỏa của ý tưởng PTBV, BVMT và ĐHX.
C. NHẬN ĐỊNH VỀ HỘI THẢO
Đối với bất kỳ một hội thảo nào, việc đánh giá toàn diện chỉ có thể chính xác qua những gì sẽ được thực hiện sau hội thảo. Tại thời điểm này, Ban Tổ Chức có một số nhận định bước đầu về hiệu quả của Hội thảo qua việc tổng kết thành phần tham dự, ý kiến phản hồi bảng Câu hỏi thăm dò, và mức độ hưởng ứng của báo chí và các phương tiện truyền thông :
Thành phần tham dự đa dạng với tổng số 126 người, trong đó :
o Về nguồn gốc: 55% Việt Nam, 13% Việt Kiều, 32% Nước Ngoài
o Về nghề nghiệp: 41% cán bộ giảng dạy/nghiên cứu, 16% chuyên gia, 27% doanh nghiệp, 8% xã hội dân sự, 8% quan chức
Việc tổ chức được đánh giá cao (90%)
Nội dung cũng được tán thành (95% cho rằng cơ cấu chương trình hợp lý và đầy đủ ; 80% cho rằng các chủ đề thiết thực; 55% cho rằng nên có nghiên cứu sâu hơn về thực tiễn Việt Nam)
Hiệu quả truyền thông tốt : hơn một tháng sau Hội thảo, đã có 29 mẫu tin, bài viết, phóng sự trên 6 báo giấy, 21 báo mạng và 2 kênh phát thanh-truyền hình.
Đối chiếu với mục tiêu chính của Hội thảo là nhằm tham khảo kinh nghiệm xây dựng ĐHX ở nhiều nước, tiếp nhận ý kiến đóng góp của các nhà quản lý, nghiên cứu, giảng viên và tác nhân khác của ĐH, có thể nói, việc trong hầu hết các bài tham luận đều có phần gợi ý riêng cho Trí Việt là một dấu hiệu hết sức khích lệ cho Ban Tổ Chức. Điều này càng được củng cố khi, 2/3 số người trả lời bản thăm dò ý kiến đã bày tỏ ý muốn đóng góp cho Trí Việt chủ yếu trong bốn lĩnh vực: tư vấn, thiết kế chương trình đào tạo, giảng dạy/ nghiên cứu, và tham gia đề án xây dựng Khung Nguyên tắc cho sự Bền vững.
Tóm lại, qua Hội thảo, Ban Tổ Chức và Nhóm Sáng Lập Dự Án ĐHTV có thể khẳng định :.
Ý tưởng Đại Học Xanh/Bền vững là một lựa chọn đúng, phù hợp với xu thế trên thế giới và đòi hỏi thực tế của Việt Nam, do vậy, có tiềm năng thu hút sự ủng hộ và đóng góp nhiệt tình của nhiều giới;
Mục tiêu ĐHX/BV là khả thi và có hiệu quả kinh tế-xã hội cao nếu được xúc tiến như một quá trình toàn diện và đồng bộ ;
Cam kết Xanh/BV sẽ là một nhân tố nhận diện đặc sắc cho Đại Học Trí Việt, tạo cho Trí Việt một cơ hội đặc biệt để khẳng định sự khác biệt trong cộng đồng đại học Việt Nam.
                                                                                                 Tháng 02/2011
* * *

DANH SÁCH CÁC BÀI THAM LUẬN TRONG HỘI THẢO

1. Trần, Thục : Việt Nam và Sự biến đổi khí hậu : Những kịch bản cho sự phát triển bền vững.

2. Kosnik, Thomas : Lồng công nghệ xanh vào một trường đại học mới ở Việt Nam.

3. Armstrong, Lloyd : Lồng ghép tính Bền vững vào trường đại học : Luận chứng và thách thức.

4. Shin-Cheng, Yeh : Một vài gợi ý về quy hoạch và vận hành một trường đại học Xanh.

5. Kishnani, Nirmal : Năm điều "ngộ nhận" về tiến trình Xanh hóa : Tìm hiểu quá trình thiết kế và các thành quả Xanh.

6. Ngô Viết, Nam Sơn : Triển khai một trường Đại học Xanh tại Việt Nam: bài học kinh nghiệm từ quy hoạch tổng thể cho hai trường Đại học Mỹ.

7. Merryweather, Melissa : Tương quan giữa môi trường tự nhiên, môi trường xây dựng và lối sống : trường hợp Việt Nam.

8. Millet, Yannick : Hướng tới xây dựng Bền Vững.

9. Allen, Jennifer : Xây dựng Khoa học của sự Bền vững : Kinh nghiệm của Đại học Portland (PSU). Võ, Đình Thanh : Cơ sở hạ tầng, Quản trị & Học tậpvề Bền vững – Kinh nghiệm từ thực tiễn.

10. Surendra, Lawrence : « Thập kỷ Phát triển Bền Vững của Liên Hiệp Quốc ».

11. Đỗ, Vân Nguyệt : Từ nhận thức đến hành động xây dựng một thế hệ Xanh ở Việt Nam.

12. Armstrong, Lloyd : Tăng cường tính Bền vững của cả đại học lẫn cộng đồng thông qua quan hệ tương tác trong học tập, phục vụ và nghiên cứu.

13. Nguyễn, Việt Anh : Nghiên cứu và Đào tạo Đại học về Bền vững.

14. Shin-Cheng, Yeh: Một vài gợi ý về quy hoạch và vận hành một trườngđại học xanh.

15. Đặng, Văn Khoa : Xây dựng mối quan hệ bền vững giữa Đại học xanh và Xã hội dân sự.

 

 


 

 

Để giúp cải tiến website, xin cho biết ý kiến

Khách: mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
Banner